SCIENCE AND TECHNOLOGY DEVELOPMENT JOURNAL - SOCIAL SCIENCES & HUMANITIES

A sub-journal of Science and Technology Development Journal since 2017

Skip to main content Skip to main navigation menu Skip to site footer

 Research Article - Social Sciences

HTML

19

Total

9

Share

Ottoman historical sources regarding China and the diplomatic Relations between the Ming Dynasty and the Ottoman Empire in the records of Mingshi






 Open Access

Downloads

Download data is not yet available.

Abstract

This paper firstly investigates the perception of the Ottoman Turks on China and Chinese which was reflected in “Khitaynameh” (Book of China) by Ali Ekber and “Kitab-ı Tevarih-i Padişahan-ı Vilayet-i Hindu ve Hitây” (Book on the Histories of the Rulers of the India and China) by Seyfî Çelebi. These were two typical historical geographical works written in the 16th century, indicating the interest of the Ottoman Turks in the country and people of China during the Ming Dynasty. Both works contain valuable records of China’s topography, history, economy, social life and traditional customs. The Ottoman Turks used the term Khitay (Hitay) and Chin to talk about China in these works. Next, the paper analyzes the Chinese perception on the Ottoman Turks and explicates the origin of name Lumi (Rumi State). Then, according to the official records of the Ming Dynasty, the paper describes the major events of the relations between the Ming Dynasty and the Ottoman Empire in the 16th-17th centuries. Based on the chronicles of Mingshi (History of the Ming Dynasty), the Ottoman Turks sent their envoys seven times to China in 1524, 1527, 1559, 1564, 1576, 1581 and 1618. According to Ming shilu (Veritable Records of the Ming) and Da Ming hui dian (Collected Statues of the Great Ming), the Ottoman delegations paid visits to China for a total of 19 times. And one of the particular details recorded is that because the Ottoman Empire often sent the tributes of lions and rhinoceroses to the Ming court, the relations between the two countries during this period were expresed in a metaphorical way as “lion diplomacy”.

MỞ ĐẦU

Từ giữa thế kỷ XV đến nửa cuối thế kỷ XVI, đế chế Ottoman trở thành một thực thể chính trị có tầm ảnh hưởng rộng khắp khu vực Trung Đông, Địa Trung Hải, bán đảo Balkan và thậm chí tới tận Ấn Độ Dương . Sự phát triển lớn mạnh của đế chế Ottoman cùng thành tựu của các cuộc phát kiến địa lý mà các nước Tây Âu đạt được đã trở thành yếu tố thúc đẩy sự giao lưu tiếp xúc giữa đế chế Ottoman với các quốc gia ở phương Đông, trong đó có Trung Quốc. Thực ra, nhận thức và hiểu biết của người Thổ-Ottoman về Trung Quốc đã hình thành từ rất sớm, nó là sự kế thừa mối liên hệ giữa người Türk (Tuốc, một số tài liệu trước đây phiên âm là Tuyếc, tức người Thổ) với người Hán từ xa xưa. Những ghi chép sớm nhất biết được hiện nay về tổ tiên của người Türk là Hung Nô và Đột Quyết phần lớn đều tìm thấy trong sử sách của Trung Quốc [ 1 , tr. 31]. Sự giao lưu tiếp xúc giữa hai dân tộc trong lịch sử còn để lại nhiều dấu ấn trong lĩnh vực văn hóa. Âm nhạc, dân vũ, hội họa, kiến trúc, văn học của người Türk được cho là đã có ảnh hưởng đến văn hóa Trung Hoa . Đến thời đế chế Ottoman, cũng là thời kì phát triển đỉnh cao của các nhóm dân tộc Türk trong lịch sử nhân loại, sự liên hệ này tiếp tục được duy trì thông qua mối quan hệ bang giao giữa đế chế Ottoman với nhà Minh-Trung Quốc. Cùng với đó, tiếp nối Akhbâr al-Sîn wa’l-Hind (Những tin tức về Trung Quốc và Ấn Độ) được viết bởi Sulaymân al-Tâdjir (thế kỷ IX), Murûc ez-Zeheb (Những thảo nguyên vàng) của el-Mesûdî (thế kỷ X) và Rihle (Tập du kí) của İbn Battûta (thế kỷ XIV), bước sang thế kỷ XVI khi người Thổ-Ottoman đã trở thành thế lực thống trị ở khu vực Trung Đông, thì những hiểu biết, nhận thức cũng như ghi chép về Trung Quốc dần được chuyển từ giới tri thức Ả Rập, Ba Tư sang Thổ-Ottoman. Các tác phẩm địa lý học lịch sử viết về Trung Quốc của một số học giả Ottoman thời kì này như Ali Ekber và Seyfî Çelebi là những dẫn chứng điển hình.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Nhận thức và ghi chép của người Thổ-Ottoman về Trung Quốc

Trong ngôn ngữ của các nước châu Âu thường sử dụng danh xưng Ch’in (China trong tiếng Anh) để chỉ đất nước Trung Quốc [ 2 , tr. 1180]. Trong tiếng Phạn thời trung cổ đó là từ “Cina” [ 2 , tr. 1178]. Còn trong tiếng Ả Rập là từ “Sin”. Theo nhà Đông phương học Henry Yule (1820-1889), do trong tiếng Ả Rập không có âm “ch” nên mới xuất hiện các biến đổi âm tiết như “Sin” hoặc đôi khi là “Thin” [ 3 , tr. 11]. Tương tự danh xưng “Kitay” (hay Kıtay và Hıtay) cũng được dùng để chỉ Trung Quốc. Điều này bắt nguồn từ tên gọi của người Khiết Đan (Kıtan, Kidan, hay Karahıtay), là tộc người sáng lập nên nhà Liêu (907-1125) cai trị khu vực phía bắc Trung Quốc và Nội Mông Cổ ngày nay. Các dân tộc ở phương bắc đã dùng từ “Kitay” để chỉ Trung Quốc. Trong nhiều tác phẩm của các học giả Islam, tên gọi này được biến đổi thành “Hitai” và “Hatai”.Còn người châu Âu thì dùng từ “Catai” và “Cathay” [ 2 , tr. 1179]. Người Nga, Hy Lạp và Ba Tư đến nay vẫn gọi Trung Quốc là “Khitai”, trong khi các dân tộc Thổ (Türk) ở Trung Á thì gọi là “Kıtay” hoặc “Hıtay” [ 3 , tr.146]; [ 4 , tr. 347].

Người Thổ Nhĩ Kỳ thời kì Ottoman khi nói đến Trung Quốc thì sử dụng cả hai danh xưng Çin và Hıtay. Đáng chú ý‎, trong một tài liệu có tên là “ Divanü Lugat-it Türk ” của học giả Kaşgarlı Mahmud còn tìm thấy các danh xưng khác có liên quan như “Tawgaç” và “Maçin”:

Tawgaç: là tên của Maçin. Nơi này cách Çin 4 tháng. Çin thực tế gồm 3 phần. Thứ nhất là Thượng Çin, ở phía đông, họ gọi nó là Tawgaç. Thứ hai là Trung Çin, nơi này có tên là Xıtay. Thứ ba là Hạ Çin, được gọi là Barxan và nó là Kaşgar. Giờ đây, Maçin được biết như là Tawgaç. Nước Xıtay cũng được gọi là Çin [Trung Quốc].

Tawgaç: là một lãnh thổ tiếp giáp với người Türk. Họ sinh sống ở vùng đất này và được gọi là Tat Tawgaç, nghĩa là Uygur, Tat tức là Çinli [người Trung Quốc] . Nó là Tawgaç.

Danh xưng này cũng được nói đến người Hán như một biệt danh là Tawgaç Xan, nghĩa là nước xưa và lớn ” [ 5 , tr. 453-454].

Thực tế, danh xưng Tawgaç (hay Tabgaç, Tavgaç) bắt nguồn từ tên gọi chi tộc Tabgaç “Tuoba” (Tuoba shi) thuộc bộ tộc Siyanpi (Tiên Ti) ở Trung Quốc cổ đại. Bởi lý do này, một số dân tộc phương Tây đã dùng các từ “Taugast” (hay Tabghach, Tawghach) tức Tabgaç để gọi Trung Quốc. Danh xưng Tabgaç thậm chí còn được sử dụng đến thời Hãn quốc Çağatay (1227-1370) ở Trung Á [ 2 , tr. 1179]. Trong “ Divanü Lugat-it Türk ” của Kaşgarlı Mahmud cũng có đoạn chép rằng: “ Người dân Trung Quốc và Maçin có các ngôn ngữ riêng biệt. Hơn nữa, người dân ở các đô thị còn biết tiếng Thổ. Các bức thư của họ gửi cho chúng ta, họ viết bằng tiếng Thổ ” [ 5 , tr. 29] và “ Nước Trung Quốc nằm ở phía đông Tây Tạng. Phía tây của nó là Kişmir [khu vực Kashmir ở Ấn Độ] , phía bắc là các tỉnh Uygur và phía nam là biển Ấn Độ [nguyên văn là Hind Denizi, tức biển Ấn Độ]” [ 5 , tr. 35]. Các nhà nghiên cứu cho rằng Maçin được nói đến ở đây chính là Man Tử “Manzi” (hay Man-tze, Man-tsu, tiếng Latin viết là Mangi, nghĩa là người man), là tên gọi dùng chỉ cư dân phía nam Trung Quốc [ 6 , tr. 177].

Có thể thấy rằng, người Thổ (Türk) đã có những nhận thức rất sớm về Trung Quốc và cũng như nhiều dân tộc khác, họ đã sử dụng nhiều danh xưng khác nhau như Çin và Hıtay để chỉ Trung Quốc. Từ thế kỷ XV trở đi, nhận thức về Trung Quốc của người Thổ-Ottoman bước sang một giai đoạn mới với những ghi chép tương đối cụ thể về Trung Quốc thời nhà Minh, được phản ánh qua các tác phẩm địa lý học lịch sử tiêu biểu ở thời kì này như “ Hıtainame ” và “ Kitab-ı Tevarih-i Padişahan-ı Vilayet-i Hindu ve Hitây ” [ 7 , tr. 57].

Địa lý học lịch sử của người Thổ Ottoman được xem là sự tiếp nối và kế thừa thành tựu cũng như truyền thống biên soạn của người Ả Rập và Ba Tư trước đó. Vào nửa sau thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI, khi người Thổ Ottoman trở thành thế lực thống trị khu vực thì những tri thức về địa lý học lịch sử cũng dần được chuyển từ giới trí thức Ả Rập và Ba Tư sang giới trí thức Thổ Ottoman. Thời gian đầu, cách thức biên soạn các tác phẩm địa lý học lịch sử Ottoman vẫn còn chịu nhiều ảnh hưởng từ lối viết của người Ả Rập và Ba Tư. Các tác phẩm địa lý học lịch sử của người Thổ Ottoman thời kì này hoặc được biên dịch từ các tác phẩm viết bằng tiếng Ả Rập và Ba Tư trước đó hoặc vẫn tiếp tục được viết bằng tiếng Ả Rập và Ba Tư, sau đó dịch lại tiếng Thổ Ottoman .

Cho đến thời điểm hiện tại, “ Acâibü’l-Letâif ” của Hoca Gıyâsüddin (hay Gıyâseddîn) Nakkaş, được viết năm Hicrî 825 (khoảng năm 1421-1422) bằng tiếng Ba Tư được xem là tác phẩm sớm nhất viết về Trung Quốc thời Minh. Tuy tác phẩm này không được viết bởi sử gia Ottoman, nhưng sau đó vào năm Hicrî 1140 (khoảng năm 1727-1728) dưới thời Sultan Ahmet III đã được Şeyhülislam Kûçek Çelebizâde İsmail Âsım dịch sang tiếng Thổ-Ottoman (Osmanlıca) với nhan đề “ Hıtây Sefâretnâmesi ” (Trung Quốc du k‎ý) và vẫn được xem là một trong các tác phẩm địa lý học lịch sử về Trung Quốc của người Thổ Ottoman đương thời [ 8 , tr. 125]; [ 9 , tr. 417]. Khởi hành từ Herat (Iran) vào năm 1419, tham gia đoàn sứ giả được cử đến Trung Quốc bởi Mirza Sahruh - con trai của Timur Leng, Gıyâseddîn ghi chép về những gì nhìn thấy trên hành trình suốt ba năm đi đến Trung Quốc và hoàn thành tác phẩm này khi trở lại quê nhà [ 4 , tr. 345]. Trong “ Hıtây Sefâretnâmesi ” của Gıyâseddîn Nakkaş, có thể tìm thấy nhiều ghi chép về tín ngưỡng, tôn giáo, cấu trúc xã hội, hệ thống an ninh, luật pháp, diện mạo địa lý, đặc điểm kiến trúc và lệ tiếp đón sứ giả nước ngoài triều cống của Trung Quốc [ 8 , tr. 129].

Hıtainame

Tuy “ Hıtây Sefâretnâmesi ” được cho là tác phẩm sớm nhất, nhưng ghi chép đầy đủ và chi tiết về Trung Quốc hơn cả lại là “ Hıtainame ” (Tập sách Trung Quốc) của Ali Ekber, một thương nhân gốc Maveraünnehir (Transoxiana). Tên gốc của “ Hıtainame ” (Khitainame, Khatayname) là “ Kânunnâme-i Çin ü Hıtây ”, được viết bằng tiếng Ba Tư, ghi chép lại hành trình đến Trung Quốc của Ali Ekber trong thời gian 1500-1510 [ 9 , tr. 414]. Tác phẩm này được hoàn thành vào tháng 5 năm 1516, trước tiên nhằm dâng tặng Sultan Yavuz Selim, sau đó tới người kế vị ông là Sultan Kanuni Süleyman vào năm 1520 [ 10 , tr. 171]; [ 11 , tr. 59]. Vào năm 1582, dưới thời Murad III, tác phẩm này được dịch sang tiếng Thổ-Ottoman với nhan đề “ Terceme-i Târîh-i Nevâdir-i Çîn Mâçîn ” [ 10 , tr. 171]. Nhiều đoạn trong bản dịch này đã được Hezarfen Ahmed Çelebi trích dẫn trong tác phẩm “ Tenqihu’t-tevarikh ”. Ngoài ra, Katib Çelebi khi viết thư mục “ Keşf ez-zunûn ‘an esâmî el-kutub ve l’fünûn ” cũng đề cập đến “ Hıtainame ” với tên gọi “ Qanun-nameh-ye Chin ve Khita ” . Vào năm Hicrî 1270 (1853-1854), tác phẩm được in lại với nhan đề “ Kanun-name-yi Çin u Hita ve ya Hitay-name ” (Kanunnâme-i Çin ü Hıtây) [ 9 , tr. 414]. Theo khảo cứu của Kaveh Louis Hemmat, hiện tại tác phẩm này có tới 16 ấn bản khác nhau, gồm 5 bản tiếng Ba Tư và ít nhất 11 bản chép tay bằng tiếng Thổ-Ottoman . Từ giữa thế kỷ XIX đến nay tác phẩm này được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu và đã xuất hiện nhiều diễn giải khác nhau về nguồn gốc của nó. Chẳng hạn, Charles Schefer (1820-1898) qua việc đánh giá nội dung, thể thức văn bản và cú pháp cũng như các lỗi trùng lắp trong tác phẩm đã cho rằng nó có nguồn gốc Trung Á [ 12 , tr. 31-84]. Còn Paul E. Kahle (1875-1964) thì cho rằng Ali Ekber có thể đã sao chép lại nội dung tập du kí của Marco Polo [ 13 , tr. 90-110]. Zeki Velidi Togan cũng cho rằng “ Hıtainame ” không phải là phiên bản gốc viết về Trung Quốc mà là bản sao chép tác phẩm của Gıyâseddîn Nakkaş và “ Ahbârü’s-Sîn ve’l-Hind ”, viết về chuyến đi đến Trung Quốc vào năm 851 của Süleyman el-Tacir [ 14 , tr. 318]; [ 15 , tr. 405]. Tuy nhiên, Lin Yih-Min trong luận án tiến sĩ hoàn thành tại Ankara và ấn hành tại Đài Bắc vào năm 1967, bằng việc đối chiếu với các nguồn thư tịch Trung Hoa đã khẳng định “ Hıtainame ” là nguyên tác của Ali Ekber [ 16 , tr. 20-22]. Các nghiên cứu gần đây cũng xác nhận rằng “ Hıtainame ” là một tài liệu quý giá‎, ghi chép về Trung Quốc thời Minh, hơn nữa nó còn là tài liệu không phải chữ Hán gần như duy nhất, chứa đựng những thông tin về thời kì trị vì của vua Minh Vũ Tông (Chính Đức đế) [ 17 , tr. 189].

Về mặt nội dung, “ Hıtainame ” tức “ Terceme-i Târîh-i Nevâdir-i Çîn Mâçîn ” được nhìn nhận là một văn tuyển hết sức phong phú, ghi chép về địa hình, lịch sử, kinh tế, các giá trị truyền thống cũng như đời sống xã hội của Trung Quốc. Tuy không viết theo thể loại biên niên lịch sử hay kí sự nhưng có thể xem nó như một bách khoa thư với nhiều đề tài đa dạng khác nhau [ 18 , tr. 75]. Được chia làm 20 chương, “ Hıtainame ” đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề từ cách thức quản lý triều đình, quân đội, cho đến lịch sử, truyền thống, thuế quan cũng như đời sống xã hội Trung Quốc dưới thời Minh .

Nội dung của từng chương trong tác phẩm có thể được khái quát như sau: Ở chương đầu tiên, Ali Ekber miêu tả về lộ trình từ các nước Hồi giáo đi đến Trung Quốc. Có ba tuyến đường bộ chính để đi tới Trung Quốc [ 19 , tr. 61]. Đó là từ Keşmir [tức Kashmir ở Ấn Độ], Hoten [Hotan, một thành phố nằm ở khu tự trị Tân Cương ngày nay] và Mông Cổ. Trong đó lộ trình từ Keşmir và Hoten thì đông đúc và có nhiều người cư trú [ 9 , tr. 415]. Ở chương thứ hai, tác giả trình bày về tế lễ ở các miếu thờ của triều đình, tư tưởng tôn giáo của giới quan lại, Phật giáo và tình hình của tín đồ Islam ở Trung Quốc cũng như việc đồn đoán rằng vị hoàng đế đang tại vị là một tín đồ Islam [ 16 , tr. 42]. Trong chương thứ ba, Ali Ekber miêu tả về các thành thị, việc tổ chức phòng thủ ở đóvà hệ thống dịch trạm của Trung Quốc. Chương thứ tư đề cập đến quân đội và tổ chức binh lính, miêu tả các loại vũ khí được sử dụng như súng trường và thần công, kế đó là hoạt động thường nhật của binh lính, các đơn vị quân binh, cấp bậc và chiến thuật. Chương thứ năm thì rất ngắn và đề cập đến các kho lương và ngân khố của nhà nước. Theo đó, các kho của triều đình thì chứa đầy vàng, bạc, tơ lụa, lương thực, hoa quả sấy khô, hạt phỉ, thức ăn gia súc và nguồn nhiên liệu hết sức có giá trị. Các kho này luôn có sẵn ở các tỉnh thành [ 16 , tr. 73]. Sang chương thứ sáu cũng là trọng tâm của tác phẩm, Ali Ekber miêu tả chi tiết về cung điện và đời sống trong cung. Phần lớn nội dung của chương này tập trung đề cập đến hoạt động của quan lại triều đình, nhất là việc tổ chức và quản lý hàng ngàn thái giám với nô tỳ trong cung [ 16 , tr. 76]. Ngoài ra, chương này cũng giải thích cách thức liên lạc giữa những người ở trong cung với bên ngoài. Sau đó là miêu tả về các nghi lễ, nguyên tắc và hoạt động của triều đình. Theo Ali Ekber, nghi lễ của triều đình rất long trọng, các cổng tường và sảnh trong cung luôn tràn ngập những bày tiết linh đình, ngai vàng của hoàng đế cũng được miêu tả tỉ mỉ.Chương thứ bảy miêu tả hệ thống nhà lao của Trung Quốc, để hiểu rõ được hoạt động của nó, Ali Ekber đã giải thích bằng trải nghiệm của mình trong nhà lao [ 16 , tr. 109]. Ở chương thứ tám, tác giả miêu tả về tết nguyên đán ở Trung Quốc: “ Khi mùa đông vừa kết thúc thì người Trung Quốc bước sang năm mới và họ tổ chức lễ hội vào thời gian này ” [ 16 , tr. 123]. Tiếp theo ở chương thứ chín, tác giả đề cập đến 12 tỉnh thành của Trung Quốc. Theo Ali Ekber, nhà Minh ban đầu đóng đô ở Namtai, nhưng khi kinh đô mới là Hanbalık hay Daydu (Đại Đô ) được xây xong vào năm Hicrî 840 (1436-1437) thì nhà Minh dọn đô về Hanbalık [ 16 , tr. 127]. Tuy nhiên, trong chương này có một thông tin chưa chính xác là số tỉnh thành của nhà Minh không phải là 12, mà đúng ra phải là 15. Rất có thể do Ali Ekber cho rằng con số 12 có ý nghĩa tượng trưng đặc biệt nên đã mô tả mọi yếu tố truyền thống của Trung Quốc theo 12 con số [ 16 , tr. 64]. Chương thứ mười miêu tả chi tiết hơn về hoạt động hội hè cùng các thú vui của người Trung Quốc. Chương thứ 11 miêu tả về các thanh lâu - “kharabat (harabat)” tức tửu quán và những “kharabatiyan (harabatiyan)” tức tửu khách của nơi này. Chương thứ 12 đề cập đến nghề thủ công cùng với thiên văn học và y dược ở Trung Quốc. Chương thứ 13 thì nói đến việc ban hành hình luật và thực thi luật pháp. Chương thứ 14 rất ngắn, miêu tả hệ thống trường học ở Trung Quốc. Chương này cũng nói đến việc người Trung Quốc tuân thủ luật lệ và miêu tả cuộc sống thường nhật mỗi ngày trải qua như thế nào. Đặc biệt theo tác giả, hoàng đế không cho phép quan viên bê trễ công việc hay ngủ gục [ 16 , tr. 155]. Chương thứ 15 và 16 miêu tả mối bang giao giữa Trung Quốc với các nước, trong đó nhấn mạnh đến mối quan hệ với tín đồ Islam, Mông Cổ và Tây Tạng. Chương 15 miêu tả nghi lễ tiếp nhận lễ vật triều cống và tiếp đãi sứ thần,còn chương 16 thì giải thích về mục đích triều cống của các đoàn sứ thần. Trong chương này, tác giả cũng nhắc đến giống chó lớn của người Tây Tạng [ 16 , tr. 160]. Những chương còn lại trong tác phẩm, Ali Ekber tập trung miêu tả sự giàu có và sung túc của Trung Quốc. Chương thứ 17 đề cập tới nông nghiệp, cách thức phòng vàchữa cháy cũng như việc sử dụng than đá như một nhiên liệu: “ Ở Hanbalık thay vì dùng củi, người ta đốt than đá ” [ 16 , tr. 163]. Chương thứ 18 miêu tả về ngân lượng và tiền giấy. Còn chương thứ 19 thì nói đến luật pháp và sự tôn trọng luật lệ của người dân. Chương cuối cùng miêu tả về nghệ thuật cắt giấy, các loại trái cây và hoa quả ở Trung Quốc cùng sự phong phú và đa dạng của trang phục với giá cả rất rẻ [ 16 , tr. 172].

“Kitab-ı Tevarih-i Padişahan-ı Vilayet-i Hindu ve Hitây”

Tiếp nối “ Hıtainame ” của Ali Ekber, một trong những tác phẩm khác của người Thổ-Ottoman viết về Trung Quốc trong giai đoạn này là “ Kitab-ı Tevarih-i Padişahan-ı Vilayet-i Hindu ve Hitây ” (Sách về lịch sử của những hoàng đế Ấn Độ và Trung Quốc) của Seyfî Çelebi, được hoàn thành vào khoảng năm 1590 [ 7 , tr. 58]. Cho tới nay, người ta chỉ tìm thấy được hai bản chép tay của tác phẩm này, gồm một bản lưu trữ ở thư viện Đại học Leiden (Hà Lan) với kí hiệu Cod. 917 (1), bản còn lại ở thư viện quốc gia Paris với kí hiệu Supplément Turc No. 1136, trong đó bản của Đại học Leiden được cho là có niên đại xưa hơn bản còn lại [ 20 , tr. 16-18]. Dựa theo bản lưu trữ tại Leiden, tác phẩm này có nhan đề đầy đủ là “ Kitâb-ı tevârîh-i pâdişâhân-ı vilâyet-i Hind ü Hıtay u Keşmîr ve vilâyet-i Acem ü Kaşgar u Kalmak u Çîn ve sâyir pâdişâhân-ı pîşîn ez-evlâd-ı Çengîz Han ve hâkan u fağfûr u pâdişâhân-ı Hindüstân der zamân-ı Sultan Murad İbn Sultan Selim Han. Min te’lîfât-ı defterdar Seyfî Çelebi el-merhûm fî sene 990 (1582) tarihinde ” [ 21 , tr. 33]. Căn cứ vào tên gọi cũng như nội dung thì đây là một tác phẩm viết về lịch sử, địa lý, đời sống kinh tế và truyền thống của các nước Trung Quốc, Ấn Độ, Iran và Maveraunnehir (Transoxiana).

Tác phẩm được chia làm 9 chương, trong đó chương đầu tiên viết về Trung Quốc. Giống như Ali Ekber, Seyfi Çelebi cũng tập trung đề cập đến luật pháp, tình hình của tín đồ Islam,và sự giàu có - thịnh vượng của Trung Quốc [ 10 , tr. 182]. Đáng lưu ý, Seyfi Çelebi đề cập đến những tên gọi khác nhau liên quan đến khu vực này: “ Lãnh thổ của Kaşgar là một vùng đất rộng lớn, một trong số các tên của nó là Khotan. Trên các vùng lãnh thổ của Hitay và Khotan, người ta gọi Khotan là Hitay và là lãnh địa của Khã hãn. Chúng cũng được gọi là Trung Quốc và Maçin. Maçin lại có nghĩa là Hitay. Còn Trung Quốc nằm ở bên cạnh của Kaşgar, và kinh đô, nơi người cai trị ở gọi là Yarkend [ngày nay là một huyện ở khu tự trị Tân Cương]. Con đường dẫn từ phía cuối Kaşgar đến phía cuối khác mất khoảng 40 ngày đi đường và đã được khai khẩn ” [ 17 , tr. 202].

Trong phần khác của cùng chương, Seyfi Çelebi miêu tả đời sống tôn giáo, cũng như tình hình của tín đồ Islam ở Trung Quốc: “ Đương kim hoàng đế là Cüneydi [Gia Tĩnh đế], còn được tôn xưng là Hakan [Khã hãn] hay Fagfur [hoàng đế Trung Quốc] trong ngôn ngữ của Hitay, và tất cả Muslim sống ở Trung Quốc luôn luôn tôn xưng là Hãn trong tiếng Thổ. Đó là vì ở Hitay có nhiều tín đồ Islam và người cai trị Hitay hiện tại, tức Cündi là một người thực hiện niềm tin vào Thượng đế ” [ 17 , tr. 214]. Đồng thời, Seyfi Çelebi cũng nhắc lại việc một trong các vị tiên đế đã cải đạo sang Islam: “ Trước vị hãn đang trị vì là một vị hãn khác tên là Şimu, anh họ của vị hãn hiện tại [điều này đúng với thực tế Gia Tĩnh là em họ của hoàng đế Chính Đức, người được tin là đã cải đạo sang Islam]. Vào một đêm năm 960 [lịch Hicrî] , vị hãn mơ thấy nhà tiên tri và mặc khải rằng hãy trở thành một tín đồ Islam ” [ 17 , tr. 215].

Kế tiếp, thông qua việc miêu tả các cung điện ở Trung Quốc, Seyfi Çelebi đã khắc họa sự giàu có và sung túc của đất nước này. Theo miêu tả của ông, cung điện của hoàng đế nhà Minh có rất nhiều ngự hoa viên và kênh đào. Hoàng đế có thể thưởng ngoạn cảnh vật bằng các kênh đào này và tổ chức các buổi tiệc săn bắn trong cung. Trong cung có đến bảy ngàn thái giám hầu cận [ 17 , tr. 210]. Ngoài ra, Seyfi Çelebi còn đề cập tới luật pháp của Trung Quốc “ trong ngôn ngữ Hitay, họ gọi đó lệ ”. Sau cùng, Seyfi Çelebi kết thúc chương viết về Trung Quốc bằng việc miêu tả nguồn vàng, bạc và tơ lụa dồi dào: “ Ở Hitay có rất nhiều mỏ vàng và bạc, tuy nhiên chỉ có phân nửa trong số đó hoạt động, các mỏ còn lại đều đóng. Nếu tất cả chúng hoạt động cùng lúc thì sẽ không còn ai có nhu cầu khai thác vàng bạc nữa và người ta sẽ không còn quan tâm về nó. Ở đây cũng có rất nhiều tơ lụa và hầu hết quần áo của người dân đều được làm từ tơ lụa ” [ 17 , tr. 206].

Ghi chép của sử sách Trung Hoa về bang giao giữa Ottoman với nhà Minh thế kỷ XVI-XVII

Nhận thức của người Trung Quốc thời Minh về người Thổ-Ottoman chủ yếu được phản ánh qua ghi chép của các thư tịch như Minh thực lục , Đại Minh hội điển hay Minh sử dù các ghi chép này còn rất sơ lược [ 22 , tr. 108]. Sử sách nhà Minh thời kì này thường nhắc đến Ottoman với danh xưng “Lỗ Mê” ( Lumi ) và gọi đế chế Ottoman là “Lỗ Mê quốc” ( Lumi guo ) [ 23 , tr. 63]. Về nguồn gốc của tên gọi này, nhiều nghiên cứu cho rằng Lumi thực tế có liên quan đến từ Rum. Trong các tài liệu tiếng Tây Tạng, khi nói đến Ottoman hay Thổ Nhĩ Kỳ người ta tìm thấy từ Rum, hơn nữa còn xuất hiện danh xưng “ rum-pa ” nghĩa là người đến từ Thổ Nhĩ Kỳ [ 24 , tr. 532]. Nhà Trung Quốc học Emil Bretschneider (1833-1901) giải thích rằng danh xưng Lumi trong thư tịch Trung Hoa giống với từ Rum về mặt âm vị và dùng để diễn tả nước Lumi cách xa Trung Quốc. Theo ông, Rum dùng để chỉ một khu vực bao gồm Tiểu Á, Armenia và Syria. Emil Bretschneider dẫn giải trong tác phẩm Şahname (Cuốn sách đế vương - thiên sử thi tiếng Ba Tư được viết trong thế kỷ XI) thường xuất hiện các từ Rum Kayser-i Rum (Caesar của Roma). Còn trong Zafername (Cuốn sách chiến thắng) thì Rum được dùng để chỉ khu vực Anadolu (Anatolia, tức miền trung Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay) [ 25 , tr. 306-307]. Ngoài ra, từ Rum còn xuất hiện trong các tài liệu Ả Rập khi nói đến lãnh thổ của đế chế Ottoman [ 26 , tr. 92]. Thông thường, Rum được người Thổ-Ottoman và Thổ Nhĩ Kỳ hiện nay dùng để chỉ người Chính Thống giáo gốc Hy Lạp ở Anatolia và vùng phụ cận, nhưng trước đây thỉnh thoảng nó cũng được dùng để chỉ chính người Thổ-Ottoman. Nó được xem là một tuyên bố của các vị Sultan Ottoman về quyền thừa kế của họ đối với di sản mà đế chế Đông La Mã để lại [ 27 , tr. 630-631]. Hơn nữa, người ta còn biết đến việc người Thổ-Ottoman dùng đồng thời hai loại lịch Hicri (Islam) và lịch Rum. Thậm chí, còn có một vài Sultan Ottoman sử dụng danh hiệu Kayser-i Rum (Caesar của Roma) [ 27 , tr. 637].

Xung quanh vấn đề này, vào những năm 1930 nhà sử học người Áo là Paul Wittek (1894-1978) đã đưa ra quan điểm về vị trí của yếu tố Rum trong xã hội Ottoman. Theo đó, ông lựa chọn danh xưng Thổ-Rum thay vì Ottoman [ 28 , tr. 95-99]. Kế đến, Mehmet Fuat Köprülü (1890-1966) trở thành một trong những nhà sử học Thổ Nhĩ Kỳ đầu tiên sử dụng danh xưng Rum khi đề cập đến nhận thức về Ottoman [ 29 , tr. 109-110]. Còn theo Halil İnalcık (1916-2016) thì danh từ Rum được dùng để chỉ phần lãnh thổ chiếm được từ Đông La Mã (Bizans) cho cả vùng Anatolia của đế chế Ottoman [ 30 , tr. 97-98]. İlber Ortaylı thì định nghĩa đế chế Ottoman như “những người Roma Hồi giáo”. Ông còn cho rằng do Ottoman là đế chế duy nhất kiểm soát phần lãnh thổ tương ứng với lãnh thổ xưa kia của đế chế La Mã ở Trung Đông và Địa Trung Hải nên nó được nhìn nhận như một “đế chế La Mã thứ ba”, nếu không nói là cuối cùng và cũng là kiểu hình Islam duy nhất. Chính vì lẽ này mà người ta đã dùng từ “Rum” với hàm ý ‎là nước của người Thổ để chỉ “ Rum ülkesi ” (nước Rum), “ iklim-i Rum ” (khí hậu Rum), “ Romalı ” (người Rum) [ 31 , tr. 49-51].

Rum còn được giới quí tộc và thống trị Ottoman sử dụng như danh xưng. Có nhiều ví dụ về việc người Ottoman tự gọi mình là Rum. Chẳng hạn trong trận đánh Ankara giữa Ottoman với Timur Lengdiễn ra vào năm 1402, Timur đã gọi người đứng đầu Ottoman khi ấy là Yıldırım Beyazid là Kayser’i Rum [ 25 , tr. 307]. Trước khi đế chế Ottoman nắm quyền kiểm soát Yemen, những người Thổ-Ottoman sinh sống ở nơi này cũng được gọi là người Rum (Rumlu). Ở bán đảo Ả Rập, Iran, Trung Á hay tận Indonesia, người ta cũng dùng danh xưng Rum để chỉ người Ottoman [ 27 , tr. 641]. Từ những lập luận nêu trên, có thể khẳng định danh xưng Lumi (Rum) trong thư tịch Trung Quốc thời Minh thực tế là để chỉ người Thổ-Ottoman.

Quan hệ giữa đế chế Ottoman với nhà Minh thời kì này được thể hiện qua việc Ottoman cử các đoàn sứ đến Trung Quốc để gửi tặng phẩm cho hoàng đế nhà Minh. Những thông tin về các đoàn sứ từ Ottoman đến Trung Quốc được ghi chép chủ yếu trong Minh sử phần bản kỉ và Tây Vực liệt truyện . Dựa theo các ghi chép này thì đoàn sứ Ottoman đầu tiên được cử đến Trung Quốc là vào năm 1524. Minh sử , quyển 17, Minh Thế Tông bản kỉ tập 1 tức thời Gia Tĩnh đế chép rằng: “ Gia Tĩnh năm thứ ba [tức năm 1524]. Năm này, Lưu Cầu nhập cống; Lỗ Mê quốc [nước Rumi] dâng tặng sư tử và tê giác ”. Sau đó, quyển này cũng chép: “ Gia Tĩnh năm thứ sáu [năm 1527] . Năm này Lỗ Mê nhập cống ” [Míngsh , ju n shíqī, běnjì dì shíqī, shìzōng yī].

Kế tiếp, Minh sử , quyển 18, Minh Thế Tông bản kỉ tập 2, tức vẫn vào thời Gia Tĩnh, tiếp tục có đoạn chép về Ottoman như sau: “ Gia Tĩnh năm thứ 38 [năm 1559]. Năm này Thổ Lỗ Phiên [Turfan, một thành phố nằm ở Tân Cương ngày nay], Thiên Phương [al-Haji, tức Arabistan-Ả Rập], Tát Mã Nhi Hãn [Semerkant hay Samarkand, một thành phố ở Uzbekistan], Lỗ Mê [Rumi], Cáp Mật [Hami hay Kumul, một địa điểm thuộc Tân Cương ngày nay], Xiêm La [Thái Lan] nhập cống ”. Ngoài ra cũng trong quyển này có đoạn đề cập rằng: “ Gia Tĩnh năm thứ 43 [năm 1564]. Năm này, Tây Phiên [Xifan], Cáp Mật [Hami], An Nam [Đại Việt] nhập cống; Lỗ Mê quốc [nước Rumi] mang tặng sư tử ” [Míngsh , ju n shíbā, běnjì dì shíbā, shìzōng èr].

Mối quan hệ bang giao giữa Ottoman với nhà Minh thông qua việc gửi và nhận tặng phẩm tiếp tục diễn ra dưới thời Minh Thần Tông, tức Vạn Lịch đế. Minh sử , quyển 20, Thần Tông bản kỉ tập 1 chép như sau: “ Vạn Lịch năm thứ 4 [năm 1576], năm này An Nam [Đại Việt], Lưu Cầu, Ô Tư Tạng [tức Wu Si Cang - tên cũ của Tây Tạng], Thổ Lỗ Phiên [Turfan], Thiên Phương [al-Haji], Tát Mã Nhi Hãn [Samarkand], Lỗ Mê [Rumi], Cáp Mật [Hami] nhập cống ”. Cũng trong quyển này có đoạn chép tiếp: “ Vạn Lịch năm thứ 9 [năm 1581], năm này Lưu Cầu, An Nam, Thổ Lỗ Phiên, Thiên Phương, Tát Mã Nhi Hãn, Lỗ Mê, Cáp Mật, Ô Tư Tạng nhập cống ” [Míngsh , ju n èrshí, běnjì dì èrshí, shénzōng yī].

Ghi chép cuối cùng trong Minh sử , phần bản kỉ về việc Ottoman cử sứ gửi tặng phẩm là vào năm 1618, tức vẫn vào thời của Vạn Lịch. Minh sử , quyển 21, Thần Tông bản kỉ tập 2 chép: “ Vạn Lịch năm thứ 46 [năm 1618], năm này Thổ Lỗ Phiên, Thiên Phương, Tát Mã Nhi Hãn, Lỗ Mê, Cáp Mật, Ô Tư Tạng nhập cống ” [Míngsh , ju n èrshíyī, běnjì dì èrshíyī, shénzōng èr].

Dựa theo ghi chép của Minh sử , phần bản kỉ có thể thấy trong hai thế kỷ XVI-XVII, khởi đầu từ năm 1524, sau đó tiếp nối vào các năm 1527, 1559, 1564, 1576, 1581 và cuối cùng là năm 1618, Ottoman đã tổng cộng bảy lần cử sứ thần đến tặng quà cho triều đình nhà Minh. Trong số này, có 4 lần diễn ra vào thời trị vì của Minh Thế Tông tức Gia Tĩnh (1521-1567), đó là các năm 1524, 1527, 1559 và 1564. Sau đó có 3 lần diễn ra vào thời của Minh Thần Tông tức Vạn Lịch (1572-1620), đó là các năm 1576, 1581 và 1618. Nếu đối chiếu với niên biểu của Ottoman, bốn lần gửi tặng phẩm các năm 1524, 1527, 1559 và 1564 diễn ra vào thời Sultan Kanunî Süleyman (1520-1566) - cũng là lúc đế chế Ottoman hưng thịnh nhất, hai lần dưới thời Sultan Murad III (1574-1595) vào các năm 1576, 1582 và lần sau cùng năm 1618 dưới thời Sultan Osman II (1618-1622).

Ngoài phần bản kỉ, trong Minh sử phần liệt truyện cũng tìm thấy một số đoạn chép về Ottoman. Chẳng hạn, Minh sử quyển 206, Liệt truyện thứ 94, Giải Nhất Quán (Trịnh Lạc Thư-Trương Lục) chép: “ Lỗ Mê ở phía tây, mang tặng sư tử, bò tây và các sản vật địa phương. Giá trị phẩm vật mà họ mang tới 23.000 lượng vàng. Hành trình đi và về kéo dài hết 7 năm. Họ bày tỏ muốn được trọng thưởng. Lục tâu rằng: “Hoàng đế nhà Minh không quý phẩm vật do họ mang tới. Hai con sư tử mỗi ngày ăn một con cừu, đã hao tổn hơn 700 con. Bò thì ăn cỏ, hiện tại còn ăn cả rau quả. Những thứ mà chúng ăn với người ăn thì giống nhau. Mong trả lại thứ họ tặng, gửi trả họ, thưởng cho họ ít, để ngăn ý đồ”. Hoàng đế không thể dùng ” [Míngsh , ju n èrbǎi líng liù, lièzhuàn dì ji shí xī, jiè yīguàn (zhèngluòshū, zhāng lù)].

Bên cạnh đó, Minh sử , quyển 332, Liệt truyện thứ 220, Tây Vực phần chép về Thiên Phương cũng có đoạn đề cập đến Ottoman như sau: “ Gia Tĩnh năm thứ 22, Tát Mã Nhi Hãn [Samarkand], Thổ Lỗ Phiên [Turfan], Cáp Mật [Harmi], Lỗ Mê [Lumi] cống ngựa và sản vật địa phương. Sau đó, cứ mỗi 5-6 năm một lần cống, dưới thời Vạn Lịch hoạt động này diễn ra liên tục ” [Míngsh , ju n sānb i sānshí èr, lièzhuàn dì èrb i èrshí, xīyù sì (tiānfāng)]. Cũng trong liệt truyện này có đoạn chép riêng về Lumi như sau: “ Lỗ Mê, cách rất xa Trung Quốc. Năm Gia Tĩnh thứ 3, khiển sứ dâng tặng sư tử, bò tây. Cấp sự trung Trịnh Nhất Bằng tấu rằng: Lỗ Mê không phải là nước thường cống, sư tử là loài vật không thể thuần dưỡng, không thể nhận nhưng vì để tỏ thánh đức của hoàng đế nên có thể nhận. Lễ quan Tịch Thư cũng tấu rằng: Lỗ Mê không liệt vào “Vương hội” [tức bang giao mật thiết], sự thực giả của họ không thể biết được. Họ nhiều lần xâm nhập vào Cam Túc gần Thổ Lỗ Phiên. Những người đến từ Lỗ Mê ắt hẳn có cả người Thổ Lỗ Phiên. Kì thực là gian trá, thỉnh xin trục xuất khỏi nước ta vì tội gián điệp. Hoàng đế dĩ nhiên là quan tâm và ra lệnh cho người kiểm tra ” [Míngsh , ju n sānb i sānshí èr, lièzhuàn dì èrb i èrshí, xīyù sì (l mí)].

Các ghi chép nêu trên về bang giao giữa Ottoman với nhà Minh đã được nhiều nhà nghiên cứu khảo chứng. Nhà Trung Quốc học John K. Fairbank (1907-1991) nhận định Ottoman đã cử sứ gửi quà tặng cho nhà Minh sáu lần trong thế kỷ XVI và một lần vào thế kỷ XVII [ 32 , tr. 157]. Tương tự, nhà Trung Quốc học Emil Bretschneider cũng khẳng định Ottoman đã nhiều lần cử sứ đến Trung Quốc. Đặc biệt những khảo cứu của Emil rất giống với ghi chép trong Minh sử [ 25 , tr. 306-308] .

Bên cạnh Minh sử , một số nguồn thư tịch khác như Minh thực lục, Đại Minh hội điển cũng đề cập đến việc Ottoman cử sứ đến nhà Minh. Dựa theo các tài liệu này thì trong suốt thời nhà Minh có đến 19 đoàn sứ Ottoman được cử đến Trung Quốc, tức nhiều hơn ghi chép trong Minh sử [ 33 , tr. 71-74]. Trong số đó, lần đầu tiên là vào năm 1388 dưới thời Minh Thái Tổ (Hồng Vũ đế) [ 22 , tr. 109]. Kế tiếp, các đoàn sứ Ottoman lần lượt tới Trung Quốc một lần vào thời Vĩnh Lạc - năm 1423, một lần vào thời Hồng Hi - năm 1425, hai lần vào thời Tuyên Đức - các năm 1427 và 1433, một lần vào thời Chính Thống (Minh Anh Tông) - năm 1445 [ 22 , tr. 110]. Ngoài ra, thời Hoằng Trị cũng có một lần Ottoman cử sứ đến vào năm 1488 [ 23 , tr. 89]. Sau đó, dưới thời Gia Tĩnh có đến 8 lần Ottoman cử sứ đến nhà Minh - đó là các năm 1524, 1526, 1527, 1543, 1548, 1554, 1559 và 1564. Đến thời Vạn Lịch có ba lần vào các năm 1576, 1581 và 1618 [ 22 , tr. 109]. Cũng có tài liệu cho biết lần cuối cùng Ottoman cử sứ đến nhà Minh là vào năm 1627 dưới thời Thiên Khải [ 33 , tr. 72].

Theo đánh giá của Gürhan Kırilen thì các đoàn sứ của Ottoman đến Trung Quốc nhiều nhất là vào thời Gia Tĩnh và Vạn Lịch. Chỉ riêng hai triều vua này đã có khoảng 10 đoàn sứ Ottoman được cử đến nhà Minh. Tuy nhiên, mốc thời gian trong nghiên cứu của Gürhan Kırilen có một số điểm khác biệt cần tra cứu lại. Vì theo Gürhan Kırilen các đoàn sứ Ottoman đến Trung Quốc vào các năm 1525, 1528, 1544, 1549, 1555, 1560, 1565, 1577, 1582 và 1618 [ 34 , tr. 229]. Thực tế, khi đối chiếu các mốc thời gian này với ghi chép của Minh sử thì có sự chênh lệch nhất định. Chẳng hạn, theo ghi chép của Minh sử , đoàn sứ Ottoman đầu tiên đến nhà Minh là vào năm Gia Tĩnh thứ ba, tức phải là năm 1524, chứ không phải năm 1525 như xác định của Gürhan. Kế đó, Gia Tĩnh năm thứ 6 là năm 1527 chứ không phải năm 1528 [ 35 , tr. 137], Gia Tĩnh năm thứ 38 là năm 1559 chứ không phải năm 1560 và Gia Tĩnh năm thứ 43 là năm 1564 chứ không phải năm 1565 [ 35 , tr. 138]. Cùng với đó, Vạn Lịch năm thứ 4 là năm 1576 chứ không phải 1577, còn Vạn Lịch năm thứ 9 là năm 1581 chứ không phải năm 1582 [ 35 , tr. 139].

Ngoài các tài liệu nói trên, trong “ Kết hợp thức vũ khí ” (Birleşim Silahlar Kılavuzu, Combination Weapons) thuộc “ Thần khí phả ” có đề cập tới một chi tiết lí thú, về việc trong đoàn sứ của Ottoman có một người tên là Đóa Tư Ma (Duo Si Ma) khi sang Trung Quốc mang theo một khẩu súng trường kiểu Ottoman (sử sách Trung Quốc chép là súng Lỗ Mật). Theo ghi chép thì người tên Đóa Tư Ma đã trải qua một hành trình kéo dài 8 năm vượt qua sông Hằng và các dãy Tuyết Lĩnh, Côn Lôn để tới được Bắc Kinh [ 23 , tr. 91]. Khoảng thời gian này cũng gần giống với ghi chép của Minh sử về lịch trình từ Ottoman đến Trung Quốc. “ Thần khí phả ” còn cho biết chỉ huy Cẩm y vệ khi đó rất quan tâm đến khẩu súng của Đóa Tư Ma [ 23 , tr. 97]. Tuy nhiên, những thông tin khác như lai lịch của Đóa Tư Ma, tên thật là gì, đến Trung Quốc chính xác vào thời điểm nào, cùng đoàn sứ Ottoman nào thì hoàn toàn không được đề cập đến. Về tên thật của Đóa Tư Ma, theo khảo cứu của Giray Fidan thì Đóa Tư Ma (ngoài ra còn có một tên khác là Tăng Mễ Cố) trong cách phát âm của người Hán rất có thể là Osman, Desim, Tursun hay Dursun trong tiếng Thổ Nhĩ Kỳ. Còn theo Kazuaki Sawai thì Duo Si Ma có thể là Düşman, nghĩa là kẻ thù hay đối thủ trong tiếng Thổ Nhĩ Kỳ [ 36 , tr. 344]. Ngoài ra, nó còn là tên của một địa danh thuộc tỉnh Thanh Hải, Trung Quốc ngày nay. Về thời điểm Đóa Tư Ma đến Trung Quốc, các tài liệu Trung Quốc chỉ cho biết vào khoảng năm Vạn Lịch thứ 25 (1597) và Vạn Lịch thứ 26 (1598), Triệu Sĩ Trinh (1553-1611) - một nhà chế tác hỏa khí nổi tiếng thời Minh đã tìm hiểu cấu trúc, cách thức chế tạo và sử dụng súng Lỗ Mật từ Đóa Tư Ma, chứ cũng không khẳng định rằng Đóa Tư Ma đến Trung Quốc vào năm 1598 [ 37 , tr. 46]. Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu như Giray Fidan và Kazuaki Sawai thì Đóa Tư Ma đến Trung Quốc vào khoảng những năm 1550 và đã lưu trú lại đây đến hơn 40 năm nên do đó rất có thể người này đã tham gia vào đoàn sứ Ottoman năm 1559 [ 23 , tr. 100-101].

KẾT LUẬN

Các tác phẩm của Ali Ekber và Seyfi Çelebi là những tài liệu hiếm hoi và rất có giá trị của người Thổ-Ottoman viết về Trung Quốc thời Minh, phản ánh nhận thức của người Thổ Ottoman về đất nước và con người Trung Quốc. Qua đánh giá tổng quát nội dung hai tác phẩm nói trên, có thể thấy rằng cả hai tác phẩm đều có cùng cách nhìn nhận, đánh giá về Trung Quốc khi tập trung nhấn mạnh vào sự giàu có và sung túc của đất nước này, cũng như miêu tả về đời sống cung đình và tình hình của tín đồ Islam ở Trung Quốc. Do viết sau nên rất có thể Seyfi Çelebi đã đọc và tham khảo tác phẩm của Ali Ekber rồi bổ sung thêm. Các ghi chép về Trung Quốc của Seyfi Çelebi chỉ vỏn vẹn trong khoảng 20 trang ở chương đầu, còn những phần còn lại trong tác phẩm thì viết về lịch sử các triều đại ở Ấn Độ, Iran và Maveraunnehir [ 10 , tr. 183]. Tuy nhiên, nếu so sánh thì có thể thấy được cả Ali Ekber lẫn Seyfi Çelebiđều có cái nhìn giống nhau về Hıtai, đó là vùng đất của sự giàu có, sung túc với luật lệ được ban hành bởi triều đình cai trị một cách có tổ chức [ 17 , tr. 220]. Đáng lưu ý, cả “ Hıtainame ” lẫn “ Kitab-ı Tevarih-i Padişahan-ı Vilayet-i Hindu ve Hitây ” khi miêu tả Trung Quốc đều tập trung vào bốn vấn đề: địa lý và con đường thương mại, sự giàu có và thịnh vượng, đời sống của tín đồ Islam, hệ thống luật pháp và sự tôn trọng nguyên tắc luật lệ của người dân nơi này [ 17 , tr. 221].

Dựa theo ghi chép của hai tác phẩm này có thể thấy sự quan tâm đáng kể của người Thổ-Ottoman đối với phương Đông, nhất là Trung Quốc. Đó là sự tiếp nối mối liên hệ giữa Trung Đông, Tây Á với Trung Quốc vốn đã có lịch sử lâu đời từ nhiều thế kỷ trước. Đồng thời phản ánh sự giao lưu và tiếp xúc Đông-Tây mà Trung Quốc và đế chế Ottoman là cầu nối, trong bối cảnh các cuộc phát kiến địa lý đang diễn ra với quy mô rộng khắp. Suốt một thời gian dài, tơ lụa và gốm sứ Trung Quốc là những mặt hàng rất được ưa chuộng ở Trung Đông và châu Âu. Người Thổ-Ottoman cũng không ngoại lệ, rất ưa chuộng gốm sứ Trung Quốc. Gốm sứ Trung Quốc thời Nguyên và đầu thời Minh được dùng rất nhiều trong nhà bếp ở hoàng cung Topkapı, thậm chí ảnh hưởng đến khuôn mẫu gốm địa phương ở İznik [ 38 , tr. 179-190].

Về đặc điểm của quan hệ bang giao giữa nhà Minh với đế chế Ottoman, có thể thấy rằng đó là mối bang giao một chiều khi mà chỉ có phía Ottoman cử sứ đến Trung Quốc, còn ngoài ra không thấy có bất cứ ghi chép nào cả trong sử liệu Ottoman lẫn thư tịch Trung Hoa về sự tiếp xúc của nhà Minh với Ottoman . Bên cạnh đó, việc Ottoman nhiều lần mang sư tử, tê giác, là những loài vật hoang dã trong mắt người Trung Quốc làm tặng phẩm gửi đến nhà Minh đã cho thấy mục đích ẩn ý đằng sau đó. Việc tặng những loài vật mang biểu tượng sức mạnh này, ngoài việc đơn thuần tạo sự hiếu kì mới lạ đối với nhà Minh, rất có thể còn nhằm phô trương thanh thế của Ottoman. Với các tặng phẩm này, quan hệ giữa Ottoman với nhà Minh được ví von là “bang giao sư tử” (aslan diplomasisi) [ 34 , tr. 226]. Về tính chất, quan hệ bang giao giữa Ottoman với nhà Minh rõ ràng không phải là kiểu ràng buộc giữa nước gửi triều cống với nước nhận triều cống, mà nó có tính chất tiếp xúc tìm hiểu nhiều hơn. Ottoman, một đế chế rộng lớn ở Tây Á, có thể vì muốn thăm dò tình hình của cộng đồng Muslim ở Trung Quốc nên đã cử sứ gửi tặng phẩm đến nhà Minh. Điều này đã được phản ánh qua ghi chép của các học giả Ottoman như Ali Ekber và Seyfi Çelebi trong các tác phẩm viết về Trung Quốc. Họ đã dành sự quan tâm đáng kể đối với tình hình của tín đồ Islam ở Trung Quốc thay vì miêu tả các tôn giáo địa phương [ 17 , tr. 216]. Theo họ, Trung Quốc dưới sự trị vì của nhà Minh có sự khoan dung tôn giáo và đối đãi tử tế với tín đồ Islam. Hơn nữa qua đó nhắc người đọc rằng việc thực hành và duy trì Islam không phải là điều xa lạ ở Trung Quốc. Đồng thời các ghi chép nhiều lần nhấn mạnh đến mối liên hệ đã được thiết lập giữa hai nhà nước.

Xung đột lợi ích

Tác giả xác nhận hoàn toàn không có xung đột về lợi ích.

Đóng góp của tác giả

Thông qua việc giới thiệu những công trình địa lý học lịch sử của người Thổ Ottoman ghi chép về Trung Quốc và trình bày mối quan hệ bang giao giữa nhà Minh với đế chế Ottoman, bài viết góp phần cung cấp những góc nhìn mới về lịch sử giao lưu, tiếp xúc giữa các nước ở phương Đông thời cận thế.

References

  1. Eberhard W.. Çin Tarihi Ankara: Türk Tarih Kurumu Basımevi. . 1995;:. Google Scholar
  2. İnayet A.. Divanü Lûgat-it Türk’te Geçen Çin ve Maçin Adı Üzerine. Turkish Studies. . 2007;2(4):. Google Scholar
  3. Yule H.. Cathay and the Way Thither. London: The Hakluyt Society. 1915;1:. Google Scholar
  4. M.N. Özerdim. Acaib-Ül-Letaif (Hıtay Sefaretnamesi) İle Çin Kaynakları Arasında İlgi. Ankara Üniversitesi Dil ve Tarih-Coğrafya Fakültesi Dergisi. 1950;8(3):. Google Scholar
  5. Mahmud K.. Divanü Lûgat-it-Türk Tercümesi, Cilt 1 Ankara: Türk Tarih Kurumu Basımevi. . 1985;:. Google Scholar
  6. Yule H.. Cathay and the Way Thither. London: The Hakluyt Society. 1915;2:. Google Scholar
  7. Béller-Hann I.. Ottoman Perceptions of China. In Donzel JLBGaEv. Comité International d’Études Pré-ottomanes et Ottomanes VIth Symposium, Cambridge, 1rst-4th July 1984. Istanbul - Paris - Leiden: The Divit Press. 1987;:. Google Scholar
  8. Mutlu B.. 15. Yüzyılda Hıtay’da Bir Timurlu Sefir: Gıyaseddin Nakkaş’ın Hıtay Gözlemleri. Cyprus International University Folklor/Edebiyat. 2011;17(67):. Google Scholar
  9. Eğri S.. Hıtây Sefâretnâmesi ve Kanunnâme-i Çin ü Hıtây’da İpek Yolu İzlenimleri. Turkish Studies. 2012;7(2):. Google Scholar
  10. M.P. Emiralioğlu. Relocating the Center of the Universe: China and the Ottoman Imperial Project in the Sixteenth Century. Osmanlı Araştırmaları/The Journal of Ottoman Studies. 2012;:. Google Scholar
  11. Kauz R.. One the Last Documents on the Silk Road: The Khataynameh of Ali Akbar. The Silk Road. 2005;3(1):. Google Scholar
  12. C. Schefer. Trois Chapitres du Khitay Nameh: Texte Persan et Traduction Française. In Leroux E. Mélanges Orientaux. Paris. 1883;:. Google Scholar
  13. Kahle P.E.. Eine Islamische Quelle über China um 1500 (Das Khitayname des Ali Ekber). Acta Orientalia. 1934;XII:. Google Scholar
  14. Togan A.Z.V.. Ali Ekber. Ali Akbar Hitai. In İslam Ansiklopedisi, Cilt I. İstanbul: Milli Eğitim Basımevi. 1978;:. Google Scholar
  15. A. Taşağıl. Hıtâynâme. In Diyanet İslam Ansiklopedisi, Cilt 17. İstanbul: İSAM. 1998;:. Google Scholar
  16. L. Yih-Min. Ali Ekber’in Hitayname Adlı Eserinin Çin Kaynaklarını ile Mukayese ve Tenkidi Taipei. . 1967;:. Google Scholar
  17. M.P. Emiralioğlu. Cognizance of the Ottoman World: Visual and Textual Representation in the Sixteenth-Century Ottoman Empire (1514-1596). Dissertation Illinois: Chicago Univesity. 2006;:. Google Scholar
  18. Hemmat K.L.. A Chinese System for An Ottoman State: The Frontier, The Millenium, and Ming Bureaucracy in Khatayi’s Book of China, Dissertation Illinois: Chicago University. . 2014;:. Google Scholar
  19. Yih-Min L.. A Comparative and Critical Study of Ali Akbar’s Khitay-Nama with Reference to Chinese Sources. Central Asiatic Journal. 1983;27(1/2):. Google Scholar
  20. J. Matuz. L’Ouvrage de Seyfi Çelebi, Historien Ottoman du XVIe Siecle Paris: Librairie Adrien Maisonneuve. . 1968;:. Google Scholar
  21. Woodhead C.. Seyfi Çelebi. In Diyanet İslam Ansiklopedisi, Cilt 37. İstanbul: İSAM. . 2009;:. Google Scholar
  22. Mă yī. “Míngdài lü mí, lu mì kăo biàn”. Hā’ěrbīn shīfàn dàxué xuébào. . 2011;(4):. Google Scholar
  23. Fidan G.. Kanuni Devrinde Çin’de Osmanlı Tüfeği ve Osmanlılar İstanbul: Yeditepe Yayınevi. . 2011;:. Google Scholar
  24. Jäschke H.A.. A Tibetan-English Dictionary Delhi: Motilal Banarsidass Publisher. . 1992;:. Google Scholar
  25. Bretschneider M.D.E.. Medieval Researches from Eastern Asiatic Sources: Fragments towards the Knowledge of the Geography and History of Central and Western Asia from the 13th to the 17th Century, Volume 2 London: Kegan Paul, Trench, Trübner and Co. LTD.. . ;:. Google Scholar
  26. Kafescioğlu Ç.. In the Image of Rum: Ottoman Architectural Patronage in Sixteenth-Century Aleppo and Damascus. Muqarnas. 1999;16:. Google Scholar
  27. Ergul F.A.. The Ottoman Identity: Turkish, Muslim or Rum?. Middle Eastern Studies. 2012;48(4):. Google Scholar
  28. Wittek P.. Rum Sultani. In Batı Dillerinde Osmanlı Tarihleri. İstanbul: Türkiye Yayınevi. . 1971;:. Google Scholar
  29. Behar B.E.. İktidar ve Tarih: Türkiye’de “Resmi Tarih” Tezinin Oluşumu (1929-1937) İstannbul: AFA Yayınları. . ;:. Google Scholar
  30. H. İnalcık. Kültür Etkileşimi, Küreselleşme. Doğu Batı (Dünya Neyi Tartışıyor: Küreselleşme I). . 2002;18:. Google Scholar
  31. İ. Ortaylı. Osmanlı Barışı İstanbul: Timaş Yayınları. . 2010;:. Google Scholar
  32. Fairban J.K., Têng S. Y.. On the Ch’ing Tributary System. Harvard Journal of Asiatic Studies. 1941;6(2):. Google Scholar
  33. Mă jiànchūn. “Míng jiājìng, wàn lìcháo lü mì chòng de chuán rù, zhìzào jí shiyòng”. Huízú yánjiū. . 2007;(4):. Google Scholar
  34. G. Kırilen. 16.-17. Yüzyıllarda Osmanlı İle Çin Arasındaki Diplomatik ve Kültürel İlişkiler. In 38. International Congress of Asian and North African Studies; Ankara. 2009;:. Google Scholar
  35. Fāngshīmíng. Zhōngguó lìshi jìnián biăo shànghăi: Shànghăi císhū chūbăn shè chūbăn. . 1980;:. Google Scholar
  36. K. Sawai. Japon Teknolojisine Karşı: XVI. Yüzyılda Doğu Asya’da Osmanlı Tüfeğinin Yeri. In Emecen FM. Eskiçağ’dan Modern Çağ’a Ordular: Oluşum, Teşkilat ve İşlev. İstanbul: Kitabevi. 2008;:. Google Scholar
  37. Mă yī. “Míngdài lü mí shi chén rén huá jìngòng chūtàn”. Běifāng mínzú dàxué xuébào: Zhéxué shèhuì kēxué băn. . 2018;(2):. Google Scholar
  38. Carroll L.. Could’ and Been a Contender: The Making and Breaking of “China” in the Ottoman Empire. International Journal of Historical Archaeology. 1999;3(3):. Google Scholar


Author's Affiliation
Article Details

Issue: Vol 4 No 2 (2020)
Page No.: 346-356
Published: Jun 5, 2020
Section: Research Article - Social Sciences
DOI: https://doi.org/10.32508/stdjssh.v4i2.551

 Copyright Info

Creative Commons License

Copyright: The Authors. This is an open access article distributed under the terms of the Creative Commons Attribution License CC-BY 4.0., which permits unrestricted use, distribution, and reproduction in any medium, provided the original author and source are credited.

 How to Cite
An, L. (2020). Ottoman historical sources regarding China and the diplomatic Relations between the Ming Dynasty and the Ottoman Empire in the records of Mingshi. Science & Technology Development Journal - Social Sciences & Humanities, 4(2), 346-356. https://doi.org/https://doi.org/10.32508/stdjssh.v4i2.551

 Cited by



Article level Metrics by Paperbuzz/Impactstory
Article level Metrics by Altmetrics

 Article Statistics
HTML = 19 times
Download PDF   = 9 times
View Article   = 0 times
Total   = 9 times