VNUHCM Journal of Social Sciences and Humanities

A sub-journal of VNUHCM Journal of Science and Technology Development since 2017

Skip to main content Skip to main navigation menu Skip to site footer

 Reviews - Arts & Humanities

HTML

767

Total

333

Share

The content values of Tuong art performance in the Southern area before 1945






 Open Access

Downloads

Download data is not yet available.

Abstract

Has been existed for a long time in the Southern area of Vietnam, Tuong art performance became the only unique spiritual dish in many centuries and leaving dozens of scripts of literary value. However, Tuong art performance is gradually losing its position due to many objective and subjective reasons. By studying the content values of classical drama, we can feel the beauty of Tuong art performance and understand more about this type of art. The content values of Tuong art performance have been interested in many researchers; however, they only stopped at studying Vietnamese Tuong generally or specific in some works such as Kim Thach ky duyen, Son hau… The researchers haven’t been a focus on exploiting the issues of the content values of Tuong art performance in the Southern area in general. So in this article, we want to have a general view of the content values of Tuong art performance in this area. The content values of Tuong art performance in the Southern area before 1945 was divided into three following parts: Elevating the values of loyalty, filial piety, virtuous wife, benevolence and righteousness;  Criticizing the moral degeneracy of people in the society; Prasing the loyal love in the troubled times. But, because of material limitations, we just studied the content of Tuong in general based on existing documents, this article can not avoid shortcomings and limitations. 

Đặt vấn đề

Tuồng đã tồn tại hàng trăm năm ở vùng đất Nam Bộ, trở thành món ăn tinh thần hấp dẫn, với nhiều kịch bản có giá trị, tuy nhiên việc nghiên cứu về nó vẫn còn bị bỏ ngõ. Vì vậy, trong bài viết ngắn này, chúng tôi tập trung đi vào nghiên cứu những cái hay, cái đẹp về nội dung của kịch bản tuồng, giúp chúng ta có cơ hội đưa kho tàng kịch bản Nam bộ đến với người đọc để họ hiểu hơn về những giá trị của nó.

Đã có nhiều ý kiến quan tâm, đánh giá về nội dung của tuồng. Xuân Yến cho rằng “tuồng tập trung vào hai đề tài chủ yếu là đề tài quân quốc và đề tài thế sự” [ 1 , tr.9]; Nguyễn Lộc nhận định tuồng đề cao đạo lý trung quân, đề cao chữ hiếu, đề cao “những người mẹ già cả yêu con rất mực, sẵn sàng hy sinh thân mình để cho con hoàn thành việc lớn” [ 2 , tr.598] và “Tuồng thế kỷ XVIII không thuần túy trang nghiêm, mà thường xen những màn có tính chất hài hước, gây cười. Nội dung của những màn này cũng góp phần vạch trần cái xấu của bọn gian nịnh và đề cao cái tốt, cái chính nghĩa....” [ 2 , tr.599]; Hoàng Châu Ký, Xuân Yến và Bùi Duy Tân viết “nội dung đi vào đề tài quân quốc”, “trung quân là ái quốc”, “tư tưởng chủ đề quán xuyến toàn bộ các vở tuồng này là “phò vua diệt nịnh” [ 3 , tr.10]; Đinh Bằng Phi viết: “hát bội ra đời giữa lúc Nho giáo đang thời thịnh đạt, lại được các triều vua trực tiếp chăm sóc, nên cốt truyện có khuynh hướng phụng sự thuyết tôn quân của Nho giáo” [ 4 , tr.32]; Hữu Ngọc & Lady Borton cho rằng “đề cao đạo đức Khổng giáo; chính trực, công bằng, hiếu nghĩa, và trung với vua. Lòng trung quân - hết lòng vì vua và trừng phạt bọn phản loạn” [ 5 , tr.20-21]. Ngoài ra, các tác giả còn cho rằng tuồng còn có “một dạng khác có từ thế kỷ 19 là tuồng đồ, phổ thông hơn và gần với hài kịch hơn. Nó khai thác những thói hư tật xấu của tầng lớp thượng lưu và chế giễu sự trung thực đáng ngờ của những kẻ quyền thế” [ 5 , tr.24].

Qua đó, chúng ta thấy đa phần các nhà nghiên cứu cho rằng nội dung tuồng chủ yếu tập trung vào vấn đề trung quân, ái quốc theo tư tưởng Nho gia và các vấn đề thế sự, khai thác những thói hư tật xấu của nhiều tầng lớp người để từ đó nêu ra những bài học đạo lý làm người trong xã hội. Từ những ý kiến đánh giá của các nhà nghiên cứu, dựa vào nội dung của chính các văn bản tuồng Nam bộ hiện còn, chúng tôi nhận thấy, nội dung của nó chủ yếu thể hiện qua ba chủ đề như sau:

  • Đề cao giá trị trung, hiếu, tiết, nghĩa

  • Đề cập đến các vấn đề thế sự, sự suy thoái đạo đức của nhiều tầng lớp người trong xã hội, nêu ra những bài học làm người;

  • Ca ngợi vẻ đẹp tình yêu thủy chung của một số nhân vật trong tuồng.

Nội dung

Phê phán đạo đức suy thoái trong xã hội

Văn học là tấm gương phản ánh hiện thực. Mỗi một tác phẩm văn học là một bức tranh xã hội thu nhỏ với đầy đủ các yếu tố chính trị, đạo đức, tôn giáo, nhân sinh thế sự, được mô thức hóa, thẩm mỹ hóa thành những xã hội mang nội dung, tư tưởng, phong cách riêng. Xã hội trong tuồng mang tính mô thức và ước lệ nhưng điểm khác của nó với các loại hình văn học khác là bản thân nó được sáng tác nhằm phục chữ “trung”, cụ thể hơn là tư tưởng “quân quốc”. Vì lẽ đó, các nhà soạn tuồng thường mượn cốt truyện từ các truyện, hay các tích trong lịch sử Trung Hoa để viết lại theo khuynh hướng tôn vinh triều đình chính thống, ca ngợi những anh hùng, nghĩa sĩ đã hết mình vì vương triều. Tuy vậy, các vở tuồng cũng không thể thoát ra khỏi hơi thở của thời đại, thể hiện khát vọng, nỗi niềm của nhân dân ta, phản ánh những thay đổi của các giá trị đạo đức trong xã hội. Sự suy thoái đạo đức được thể hiện trong tuồng với một phạm vi rộng từ nội bộ của các vương triều phong kiến, một bộ phận quan lại đến mọi tầng lớp trong xã hội, những kẻ buôn gian bán lận, lợi dụng lừa đảo để kiếm tiền, một bộ phận thầy tu, thầy cúng, thầy bói cũng “miệng nam mô, bụng một bồ dao găm”. Nhiều tên quan coi trọng đồng tiền, dùng nó như một thước đo đạo đức như viên quan phủ trong Lâm Sanh Xuân Nương, nhận tiền để nhắm mắt làm ngơ, che giấu tội giết người của Vương mẫu. Đại diện tiêu biểu cho sự tha hóa về mặt đạo đức của bộ phận quan lại trong các vương triều phong kiến có lẽ chính là nhân vật Lợi Đồ trong vở tuồng Kim Thạch kỳ duyên . Hắn dùng miệng lưỡi và đồng tiền để mua chức quan tri huyện. Đến khi làm quan hắn không lo làm trọn trách nhiệm của một quan phụ mẫu mà tham gia vào cuộc mua bán trao đổi các chức sắc “Hương sư hết một sở vườn/ Thủ bổn mất mười mẫu ruộng” [ 6 , tr.212]. Khi vợ hắn chết, thay vì phải điều tra kỹ càng, coi đây là một cơ hội kiếm chác, hắn lại cho quân đến bắt Thạch Đạo Toàn – người thầy thuốc đã ra sức chữa bệnh cho vợ hắn với mục đích đổ tội oan cho Đạo Toàn để lấy tiền chuộc. Chỉ cần Thạch Hữu Quang, con trai của Đạo Toàn, đưa cho hắn ba mươi lạng bạc thì mọi chuyện sẽ qua: “Bạc chạy đủ ba mươi lượng/ Giam ngoài đỡ một hai ngày/ Đệ án bẩm thượng đài/ Tư sách giao hình bộ [ 6 , tr.65]. Một bản án giết người, nhưng được xử lý êm xuôi bằng ba mươi lạng bạc. Chung quy lại cũng vì tiền, một viên quan phụ mẫu vừa đổ oan cho người vừa tìm cách moi tiền người bị oan, đẩy gia đình người vô tội đến cảnh tan cửa nát nhà, khiến người con gái ngoan hiền Thạch Vô Hà phải bán mình chuộc cha. Sự suy thoái đạo đức còn được thể hiện ở gia đình phú hộ Lâm Vượng. Khi hay tin Kim Ngọc, có hôn ước với Ái Châu, bị bệnh, gia đình gặp nạn thì vợ chồng Lâm Vượng tìm cách gả đứa ở cho Kim Ngọc, khi con gái được gả vào nhà giàu, Lâm Vượng vui mừng “Cáo mượn oai hùm lấy tiếng/ Ruồi bu đuôi ngựa nhờ hơi” [ 6 , tr.206]. Trong vở Gia Tường, nhân vật Gia Tường đã đi tu nhưng nói dối, “dụng gái xinh”, nghĩ về vợ cũ “bỗng chút chạnh thương”, ở chùa nhưng hẹn với vợ cũ, đến khi vợ cũ nửa đêm trốn theo trai thì giận dữ “đêm nay nó hẹn cùng ai; cho nên nó không gần với mỗ” [ 8 , tr. 13] . Khi vợ cũ quay lại, hắn giận dữ, toan hãm hiếp, không được, “nhà sư” này đã đánh cho vợ cũ của mình “đầu bị tích, máu ra đỏ dệ; còn, lưng mắc đòn, da nứt dọc ngang” [ 8 , tr. 14]. Nhân vật Dạ Tăng trong Trần Bồ , một kẻ “bói quỷ bói ma” “muốn thoát khỏi xâu khỏi lính, nên phải đi làm thầy”, đã đi tu nhưng “muốn trốn thuế nhà vua”, “muốn kiếm chác thảng qua nhà gã”; Nhâm Sanh - thuật sĩ bói toán, qua nhà Trần Bồ lừa lọc bà Bồ để “kiếm bạc, kiếm tiền”, “thầy bói láo thiên láo địa”; Trần Bồ - tên phú hộ “già tham gái má hồng”, mơ “cưới một gái non non, kiếm chút con muộn muộn”, “đầu đã phơi tóc bạc, dạ còn chứng máu dê” trong tác phẩm Trần Bồ ; đó là nhân vật Thằng Lãnh - một tên bán heo, giả làm thần thánh để lừa tình một cô gái đẹp trong Thằng Lãnh bán heo; một bà mẹ chồng giết con dâu rồi hối lộ quan phủ mong tránh tội trong Lâm Sanh Xuân Nương từ quan Lợi Đồ, thôn trưởng chính, trưởng ấp đến những tên lại mục, tay sai gác cổng trong Kim Thạch kỳ duyên. Ngay cả bọn lâu la của chúng cũng thừa cơ vơ vét, bắt nạt dân nghèo, “ai muốn gửi vào ra/ Ta kiếm chơi nhiều ít” [ 6 , tr.207].

Nhà chùa là nơi tập trung những người có tấm lòng thanh cao, nhân hậu, biết giúp đỡ người khác ấy vậy mà trong tác phẩm tuồng Kim Thạch kỳ duyên lại đầy rẫy những kẻ biến chất. Họ tàn nhẫn từ chối giúp đỡ Kim Ngọc với những lời chua chát “Thằng kia! Mi đem đi đâu thì đem/ Cái thằng làm sao/ Đã đem bỏ thây ma/ Khéo kiếm lời nói quỷ” [ 6 , tr.87]. Nhân vật Đạo Chuối: “Sớm lân la Cái Muối/ Chiều thơ thẩn Gò Dưa/ Nhớ Bến Nghé ngày xưa/ Thèm thịt trâu nhiểu dãi” [ 6 , tr.98] hay tên Đạo Oản: “Bớ chú Chuối! khéo đánh phách làm người bộ giỏi,/ Chẳng xét thân như chuối chín cây/ Như anh em ta: cũng một đoàn trốn thuế, làm thầy/ Không biết phận lại ngồi nói tướng/ Phải không kiên nghiệp chướng/ Đéo hỏa thử! Tao: Toan nhất thiết cúng dường [ 6 , tr.99-100]. Còn hòa thượng Hư Vô: “Nương cửa Phật, dối màu tăng,/Lần chuỗi bồ đề dễ kiếm ăn./ Đôi mắt lim dim, lòng tưởng nhớ,/ Mở kinh thí thực tụng lăng nhăng [ 6 , tr.100]. Hay trong vở tuồng Trương Ngáo, tác giả khắc họa nhân vật Trương Ngáo để phê phán, chế giễu nhà chùa lợi dụng Phật, lợi dụng những kẻ ngốc, không biết phân biệt để thu của thập phương, đồng thời đả kích tâm lý mộ đạo vì lợi của một bộ phận dân chúng. Một vị hòa thượng đáng ra sẽ ăn nói đàng hoàng, lịch sự thì lại dùng những từ coi thường như “thằng ở đâu rất chướng./ Nó giống đứa điên khùng. Nó đà lui khỏi am tiềm, Ta kíp sắm sửa vô mà thỉnh Phật ” [ 9 , tr.28].

Trong quan niệm của Nho giáo, người phụ nữ phải giữ trọn đạo Tam tòng, Tứ đức, bổn phận và trách nhiệm của người phụ nữ được Nho giáo nhấn mạnh là “phu xướng phụ tùy”, “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”, phải theo chồng, ứng xử với chồng phải “tương kính như tân”. Trong văn học tuồng Nam bộ cũng không hiếm nhân vật nữ lấy tiết hạnh làm đầu, thế nhưng trong tuồng Nam bộ hình ảnh người phụ nữ hiện lên còn là những bà Chánh hậu xấu xa độc ác. Hay một bà Bồ ghen tuông, la hét, đánh người và một Liễu Cơ thích làm vợ lẽ ( Trần Bồ ), một Ba Bành chê chồng, đánh chồng, cướp chồng người, đánh bài đánh bạc cho khuynh gia bại sản. Tiêu biểu cho sự suy thoái đạo đức của người phụ nữ được thể hiện rõ nhất trong tác phẩm Kim Thạch kỳ duyên. Bùi Hữu Nghĩa đã xây dựng một ả Ái Châu bội ước, bài bạc, âm mưu cướp chồng người, làm đĩ. Ngay cả, tình hiếu tử là thứ tình cảm thêng liêng đáng trân trọng nhất thì ả lại dẫm đạp lên chính người đã sinh ra mình, khinh thường cha mẹ nghèo không xứng đáng vào cổng nhà giàu như mình.

Những mâu thuẫn, tranh giành vị trí trong chính các bà vợ của các vua quan đã cho thấy một một xã hội lộn xộn, không có thứ bậc, quy cũ đã trở thành hiện tượng phổ biến thời bấy giờ từ cung vua tới phủ chúa và quan lại. Trong cung vua các chánh hậu ra sức củng cố phe phái, tiêu diệt các thứ hậu đang mang thai hay các hoàng tử nhỏ, gây ra những cuộc tranh giành, đấu đá hàng chục năm trời như trong Sơn hậu, Đinh Lưu Tú, Nhạc Hoa Linh, Kim Long Xích Phụng… Bên trong nhà quan Lợi Đồ ( Kim Thạch kỳ duyên ), hình ảnh hai bà vợ ăn chơi, ghen ghét lẫn nhau được Bùi Hữu Nghĩa miêu tả khá rõ.

Tất cả những hình ảnh trên là dấu hiệu cho thấy sự suy đồi, xuống cấp của các giá trị đạo đức trong xã hội, các chuẩn mực đạo đức của Nho gia, của chế độ phong kiến đang dần dần bị tan rã thay vào đó là một xã hội với đầy rẫy những thị phi, tính toán, chém giết, đĩ điếm, cướp bóc. Xã hội trong tuồng đã bắt đầu được hiện thực hóa thay cho mô hình hóa theo kiểu trung, hiếu, tiết, nghĩa như trong nhiều vở tuồng quân quốc.

Ca ngợi tình yêu thủy chung trong thời loạn lạc

Kịch bản tuồng Nam bộ, còn đề cao những chuyện tình yêu đa sắc màu, không theo một motif, không cần “môn đăng hộ đối”, vượt qua mọi khoảng cách không gian, thời gian để sống hạnh phúc với nhau. Đó là câu chuyện tình đầy nhân duyên, lãng mạn giữa một chàng trai tài hoa Đinh Lưu Tú với Ngọc Xuân. Mối lương duyên giữa Kim Ngọc và Thạch Vô Hà, đến với nhau không phải vì tình yêu mà do hoàn cảnh ép buộc, theo kiểu “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, chấp nhận lấy một kẻ bệnh tật để gánh nạn thay cho chủ nhưng kết quả của mối lương duyên lại là một tình yêu đẹp, lãng mạn. Vô Hà biết Kim Ngọc mang bạo bệnh, nàng không những không xa lánh hắt hủi, mà còn cùng cha chữa trị cho chồng. Kim Ngọc đỗ Trạng Nguyên, gặp nhiều cám dỗ vẫn một mực chung tình với nàng Vô Hà thùy mị, nết na.

Bên cạnh mối lương duyên theo sự sắp đặt của Kim Ngọc và Vô Hà, còn là mối tình của những cô gái tiểu thư nhà giàu nhưng đi ngược lại với quan niệm “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, đại diện tiêu biểu có thể kể đến như Phùng Lan Hương ( Long Lân Quy Phụng ) hay Xuân Ngọc ( Tống Từ Minh ). Phùng Lan Hương là con gái của Thái sư Phùng Ngộ, một vị quan có chức sắc trong triều, gia đình danh giá, đến tuổi kén chồng nàng gieo tú cầu để tìm chồng. Trái tú cầu rơi trúng Châu Ngọc Long, một chàng học trò nghèo. Thái sư Phùng Ngộ ra sức ngăn cản nhưng Lan Hương vẫn không nghe lời, coi đó là mối lương duyên của mình và quyết lấy cho bằng được chàng thư sinh nghèo. Nàng Xuân Ngọc trong Tống Từ Minh tương tư chàng người ở nghèo Tống Từ Huệ đến sinh bệnh, không được cha mẹ đồng ý nhưng cũng quyết lấy cho bằng được.

Chuyện tình yêu trong tuồng còn được các tác giả thể hiện ở những mối tình vượt qua mọi khoảng cách thời gian, không gian, vượt qua mọi giới hạn của sự hận thù để đến với nhau. Tình yêu của họ không chỉ là tình yêu của những người giàu với người nghèo mà còn là tình yêu của những người ở hai đầu chiến tuyến, họ là kẻ thù của nhau, nể tài nhau mà yêu nhau. Tình yêu của họ không chỉ hóa giải hận thù mà còn hỗ trợ nhau để chống lại những thế lực đen tối, âm mưu tiếm ngôi, cùng nhau vượt qua mọi thử thách, mọi nguy biến. Chúa quốc Thiên Nhiên cảm tài Trạng nguyên Tư Trực, đã đem lòng yêu mến. Để được sánh duyên với chàng, Thiên Nhiên cho Thái nữ nêu ba điều có lợi cho cả hai nước khi Tư Trực chịu kết duyên cùng. Biết rõ tấm lòng của Thiên Nhiên, Tư Trực đã nhận lời. Từ đó, quan hệ bang giao hai nước ngày càng tốt đẹp. Khi nhận được thư của Nhạc Hoa Linh báo mọi chuyện trong nước, Tư Trực buồn. Thương chồng, Thiên Nhiên giao quyền lại cho em là Thiên Thặng rồi cùng Tư Trực về nước Hàn, giải quyết êm xuôi mọi chuyện. Câu chuyện tình yêu giữa Võ Châu Long với công chúa nước Phiên, Xuân Hương ( Võ Thành Lân ), cũng là một điển hình cho tình yêu giữa những người ở hai đầu chiến tuyến.

Trong số các câu chuyện tình yêu của tuồng Nam bộ, chuyện tình nàng Xuân Nương và chàng Lâm Sanh là câu chuyện tình đầy sóng gió và đau khổ nhất, thậm chí phải mất cả tính mạng của mình. Vì mẹ của Lâm Sanh tham vinh hoa, phú quý nên ép chàng học hành thi cử không được gặp vợ, khiến cho đôi vợ chồng trẻ như cá với chim, gần nhau mà phải xa cách đằng đẵng: “Đêm năm canh dựa màn bướm chực phòng không,/ Còn, ngày sáu khắc luống tin ong ngơ mùi lạnh” [ 10 , tr.7]. Tình yêu của họ bị chia cắt, Lâm Sanh lên đường vào kinh để thi, chàng đậu Trạng nguyên, rồi vì cứu mẹ bị giam trong ngục, để lấy công chuộc tội chàng phải ra chiến trường. Đất nước hòa bình, nhà vua muốn gả công chúa cho chàng nhưng vì tình yêu với Xuân Nương chàng đã từ chối: “Dạ, cúi tâu qua lịnh thánh,/ Cho tỏ dạ ngu thần./ Trước kết duyên Xuân thị châu trần,/ Vì cai mẫu hiền thê tử hĩ” [ 10 , tr.75] . Nhà vua hiểu rõ được tấm lòng chung tình của chàng nên thuyết phục chàng: “Phò mã nghe trẫm phán/ Xuân Nương trước Xuân Nương là chị,/ Còn như, công chúa sau công chúa ấy em./ Có hề chi phò mã phòng ngại” [ 10 , tr. 75]. Rõ ràng qua đó chúng ta thấy nghĩa tình của chàng dành cho vợ thật sâu nặng, trong lòng chàng tình yêu dành cho Xuân Nương không có gì có thể thay thế được. Vinh hoa phú quý không làm chàng quên được người vợ thửa xưa. Trên đường về quê, chàng gặp lại nhạc phụ và nhạc mẫu, nhớ về người vợ quá cố, chàng khóc lóc, đau khổ. Khi Lão ông nói: “Chừ vợ con nó vô phước nó chết rồi nên bây giờ cha đem em nó là Liễu Hoa cha thế cho con đó ma”, nhưng Lâm Sanh nhất định không đồng ý. Ông Lão tiếp tục đưa “Vàng bạc cho phần rể mấy vò/ Ngọc ngà lại phần con mấy tráp./ Cha cho con hết thảy”, rồi để Liễu Hoa ở lại nhưng Lâm Sanh vẫn tiếp tục từ chối, chàng nói với Liễu Hoa: “Hiền muội,/ Hiền muội sao còn ở,/ Chẳng về với song thân./ Như ta là: Vốn là người quân tử chi nhân,/ Đâu có phải cuồng phu chi loại./ Như vợ qua nó vô phước nó thác rồi thì thôi,/ Dầu chẳng đặng sánh đôi kim cải,/ Là bởi nơi con tạo khiến vay./ Hiền muội ôi là,/ Tại trời xui bậu đứt chơn tay,/ Bởi đất khiến qua phân chồng vợ nữa thì thôi đừng làm vậy mà không nên” [ 10 , tr. 80]. Trải qua muôn vàn khổ ải, ly biệt, thử thách nhưng cuối cùng chàng Lâm và vợ cũng được đoàn tụ với nhau. Tình yêu của chàng Lâm cũng khiến cho chúng ta phải ngưỡng mộ bởi dù nhiều cám dỗ, ngăn cách nhưng nghĩa tình mà chàng dành cho người vợ của mình thật đáng khâm phục.

Những câu chuyện tình yêu trong tuồng không mang một sắc màu chung mà tỏa sáng với nhiều màu, nhiều kiểu. Tác giả không tập trung khắc họa về những diễn biến của tình yêu mà chỉ lồng ghép vào những diễn biến, những sự kiện lịch sử nhưng thông qua đó chúng ta thấy được tình cảm chân thành mà họ dành cho nhau sâu sắc, mãnh liệt như Lâm Sanh, Kim Ngọc từ chối hết mọi cơ hội khác chỉ để giữ trọn vẹn tình yêu của mình. Tình yêu cũng khiến cho những người phụ nữ mạnh mẽ hơn, cùng chồng giải quyết những việc quốc gia đại sự như chúa quốc Thiên Nhiên, công chúa Xuân Hương.

KẾT LUẬN

Tuồng xây dựng lên một xã hội với nhiều mâu thuẫn xung đột, đặc biệt xung đột giữa các vương triều phong kiến và các cuộc tranh giành trong chính nội bộ của triều đình, thông qua đó nhằm làm nổi bật những hình mẫu lý tưởng cho đạo đức Nho gia, ca ngợi những con người mang vẻ đẹp trung, hiếu, tiết, nghĩa.

Xã hội trong tuồng không chỉ là xã hội của các vương triều với những nhân vật như vua, thứ hậu, thứ phi, hoàng tử, công chúa, trung thần, nịnh thần mà tác giả tuồng bắt đầu chú ý đến đời sống cụ thể của từng nhân vật thuộc nhiều tầng lớp như nhân vật tri phủ, quan huyện, hương thôn, lí trưởng, lính tráng, tên canh cổng, thằng khờ, thằng buôn, những ả đĩ điếm, thầy bói, nhà sư, thằng hầu...

Tác giả tuồng phê phán những thói hư tật xấu của đủ mọi hạng người trong xã hội, trên nền xã hội loạn lạc, suy đồi đó nổi bật lên những con người hiền lành, chất phác, thủy chung, hiếu hạnh, đưa ra những bài học đạo đức làm người. Có thể nói tuồng đã không còn là tiếng nói, là phương tiện tuyên truyền của vua quan phong kiến nữa mà đã trở thành một kênh thông tin qua đó ước mơ, tâm tư, tình cảm của nhân dân lao động được phản ánh.

XUNG ĐỘT LỢI ÍCH

Tác giả không có bất kỳ xung đột lợi ích nào trong công bố bài báo.

ĐÓNG GÓP CỦA TÁC GIẢ

Tác giả đã thống kê, phân loại và đưa ra những nhận xét, bình luận khái quát về nội dung của các kịch bản Tuồng.

References

  1. Yến X.. Những vấn đề thẩm mỹ, đạo lý, xã hội trong tuồng cổ. Hà Nội: Nhà xuất bản Sân khấu. 1994;:. Google Scholar
  2. Lộc N.. Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX). Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục. 2009;:. Google Scholar
  3. Ký H.C., Yến X., Tân B.D.. Tổng tập Văn học Việt Nam (tập 15a). Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. 1994;:. Google Scholar
  4. Phi ĐB. Nhìn về sân khấu hát bội Nam Bộ. TP.HCM. Nhà xuất bản Văn nghệ. 2005;:. Google Scholar
  5. Ngọc H., Borton L.. Tham khảo biên dịch văn hoá Việt Nam: Nghệ thuật tuồng Việt Nam. Hà Nội: Nhà xuất bản Thế giới. 2006;:. Google Scholar
  6. Thắng N.Q.. Bùi Hữu Nghĩa và Kim Thạch kỳ duyên. Hà Nội: Nhà xuất bản văn học. 1993;:. Google Scholar
  7. Ký H.C.. Tuồng cổ. Hà Nội: Nhà xuất bản Văn hóa. 1978;:. Google Scholar
  8. Ninh L.K., Huề N.K., Hoài N.D.. Tuồng Gia Trường. Sài Gòn: Coudurier & Montégout, Imprimeurs- Éditeurs. 1906;:. Google Scholar
  9. Sâm N.V., Hồ L., Tâm N.H., Trang N.V.. Trương Ngáo tức Người đi đòi nợ Phật. . ;:. Google Scholar
  10. Hanh T.X., Sâm N.V.. Lâm Sanh Xuân Nương. Mĩ: Viện Việt Học Califonia. ;:. Google Scholar


Author's Affiliation
Article Details

Issue: Vol 4 No 1 (2020)
Page No.: 261-268
Published: Mar 31, 2020
Section: Reviews - Arts & Humanities
DOI: https://doi.org/10.32508/stdjssh.v4i1.537

 Copyright Info

Creative Commons License

Copyright: The Authors. This is an open access article distributed under the terms of the Creative Commons Attribution License CC-BY 4.0., which permits unrestricted use, distribution, and reproduction in any medium, provided the original author and source are credited.

 How to Cite
Thi Huyen Trang, N. (2020). The content values of Tuong art performance in the Southern area before 1945. VNUHCM Journal of Social Sciences and Humanities, 4(1), 261-268. https://doi.org/https://doi.org/10.32508/stdjssh.v4i1.537

 Cited by



Article level Metrics by Paperbuzz/Impactstory
Article level Metrics by Altmetrics

 Article Statistics
HTML = 767 times
Download PDF   = 333 times
View Article   = 0 times
Total   = 333 times